37. Trả lời phỏng vấn của ông L. Hanxen - chủ bút Hãng U.P. của Mỹ ở khu vực Châu Á (26-12-1955)

Hỏi: Trong năm sắp tới, triết lý nào sẽ hướng dẫn Ngài trong những sự cố gắng của Ngài để mang lại cho những nước Châu Á nền hoà bình và thịnh vượng mà mọi người mong muốn?

Trả lời: Trong chính sách đối ngoại, triết lý hướng dẫn chúng tôi là sự thực hiện 5 nguyên tắc chung sống hoà bình.

Về chính sách nội trị, triết lý hướng dẫn chúng tôi là sự thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ để thực hiện sự thống nhất đất nước chúng tôi.

Tôi chúc ông một năm mới sung sướng, vui vẻ, và nhờ ông chuyển cho nhân dân Mỹ lời chào thân thiện của chúng tôi.

Báo Nhân Dân, số 663, ngày 26-12-1955.

38. Trả lời phỏng vấn của phóng viên Anh Rốt Xenxpô, báo Tin nhanh hàng ngày (26-4-1956)

Hỏi: Chủ tịch có thấy cuộc đi thăm nước Anh của các vị lãnh tụ Liên Xô sẽ là dịp thuận lợi cho các cuộc thảo luận có thể đưa đến một giải pháp cho việc khủng hoảng hiện nay ở Việt Nam không?

Trả lời: Việc đi thăm nước Anh của các vị lãnh tụ Liên Xô, nhằm cải thiện mối quan hệ giữa hai nước sẽ góp vào việc bảo vệ hoà bình Châu Á và thế giới và do đó có thể ảnh hưởng tốt tới việc giải quyết vấn đề Việt Nam.

Hỏi: Chủ tịch có thấy một nguy cơ chiến tranh nổ ra lại ở Việt Nam không?

Trả lời: Hoà bình ở Việt Nam đang bị đe doạ vì Hiệp định Giơnevơ đang bị Chính quyền miền Nam vi phạm nghiêm trọng.

Hỏi: Trước thái độ của “Chính phủ miền Nam” đối với Hiệp định Giơnevơ và trước việc giải tán Bộ Chỉ huy Pháp, Chủ tịch có những dự kiến gì? Ngài có thấy là do thái độ của “Chính phủ miền Nam”, Ngài có thể tự do áp dụng bất cứ phương pháp nào để thống nhất đất nước không?

Trả lời: Chúng tôi sẽ dùng mọi biện pháp đấu tranh bằng đường lối hoà bình để Hiệp định Giơnevơ được thực hiện triệt để.

Hỏi: Chủ tịch có định mở rộng những quan hệ ngoại giao và nhất là thương mại đối với phương Tây không?

Trả lời: Trên nguyên tắc bình đẳng và hai bên cùng có lợi, chúng tôi sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao và thương mại với tất cả các nước.

Báo Nhân Dân, số 784, ngày 26-4-1956.

39. Trả lời phỏng vấn của phóng viên Hãng thông tin Mỹ U.P (13-7-1956)

Hỏi: Theo Cụ nghĩ thì hiện nay sự trở ngại lớn nhất để thực hiện hoà bình thế giới là gì?

Trả lời: Đó là chính sách “thực lực”, chính sách tăng cường quân bị, chuẩn bị chiến tranh của vài cường quốc.

Hỏi: Theo ý kiến Cụ thì việc gì có thể xảy ra, nếu không có tổng tuyển cử trong toàn quốc ở Việt Nam đúng tháng 7?

Trả lời: Nhân dân cả nước Việt Nam sẽ tiếp tục đấu tranh và đấu tranh mạnh hơn nữa để cho có tổng tuyển cử tự do trong khắp cả nước; vì đó là nguyện vọng tha thiết của toàn dân Việt Nam đã được Hiệp định Giơnevơ 1954 thừa nhận.

Hỏi: Người ta tố cáo rằng: Trong trường hợp tổng tuyển cử toàn quốc, thì sẽ không có tuyển cử tự do ở miền Bắc. Chính phủ của Cụ sẽ sẵn sàng có những biện pháp gì để bảo đảm tuyển cử được tự do ở miền Bắc?

Trả lời: Đó là lời vu khống của những người không muốn thống nhất Việt Nam bằng tổng tuyển cử tự do. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bảo đảm tổng tuyển cử sẽ được hoàn toàn tự do ở miền Bắc Việt Nam.

Hỏi: Nước Cộng hoà Nhân dân Việt Nam có thể cũng sẽ tổ chức tuyển cử như ở miền Nam đã tổ chức không?

Trả lời: Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chủ trương tổ chức tổng tuyển cử tự do theo đúng ý nguyện của toàn dân Việt Nam.

Hỏi: Theo Cụ nghĩ thì triển vọng để tăng cường sự buôn bán giữa Việt Nam và Nhật Bản trong năm 1956 – 1957 như thế nào?

Trả lời: Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng buôn bán với Nhật Bản cũng như với các nước khác, trên nguyên tắc bình đẳng và hai bên cùng có lợi.

Hỏi: Chính phủ của Cụ đã có kế hoạch gì để khuyến khích nước Pháp đầu tư thêm ở miền Bắc Việt Nam không ?

Trả lời: Vấn đề ấy cần phải bàn bạc giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Pháp. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hoan nghênh sự phát triển quan hệ về mọi mặt với nước Pháp trên nguyên tắc bình đẳng và hai bên cùng có lợi.

Hỏi: Chính phủ của Cụ có thể chấp nhận một thể thức theo đó cả nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nước Cộng hoà Việt Nam làm hai quốc gia riêng biệt và có thể vào Liên Hợp quốc không?

Trả lời: Đất nước Việt Nam từ Bắc đến Nam là một khối, cần được thống nhất.

Không thể chia cắt Việt Nam thành hai nước riêng biệt, cũng như không thể chia cắt Hoa Kỳ thành hai nước riêng biệt.

Chúc ông mạnh khoẻ.

Báo Nhân Dân, số 861, ngày 13-7-1956.

          40. Trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Yi Chê Pao (20-9-1919)

Cuộc trao đổi giữa N.A.Q, Phan Vǎn Trường, 1 đại biểu Triều Tiên là Kim Tchong Wen và 1 phóng viên Mỹ tại nhà phóng viên:

PV: Ông đến Pháp với mục đích gì?

Đáp: Để đòi những quyền tự do mà chúng tôi phải được hưởng.

PV: Chương trình của Ông là gì?

Đáp: Luôn luôn tiến lên phía trước, tuỳ theo sức mạnh của chúng tôi.

Hỏi về những công việc của đảng ở Đông Dương và những cuộc khởi nghĩa nổ ra từ đầu chiến tranh, Nguyễn Ái Quốc đáp: “Mục đích của Chính quyền Pháp hoàn toàn khác với mục đích của người Nhật ở Triều Tiên. Người Nhật muốn Nhật Bản hoá hoàn toàn người Triều Tiên. Còn nước Pháp, thì ngược lại, muốn duy trì vĩnh viễn sự bất bình đẳng giữa người An Nam và người Pháp, nó muốn, bằng cách lợi dụng lao động của người An Nam, bòn rút vô tận các sản phẩm đủ loại mà Đông Dương rất sẵn và cố gắng không cho người An Nam tự tạo cho mình một vị trí kinh tế độc lập. Các thứ thuế đủ loại cũng như những biện pháp hạn chế và chế độ giáo dục công cộng đều xuất phát từ những toan tính đó. Bằng cách cản trở vǎn minh và tiến bộ của dân tộc An Nam, người Pháp vĩnh viễn đặt dân tộc này ra ngoài lề của nền vǎn minh thế giới và buộc họ phải đáp ứng vô cùng tận những đòi hỏi không ngừng thay đổi của chúng. Trong những nǎm gần đây, điều kiện sống ở Đông Dương trở nên thảm hại chưa từng thấy”.

Hỏi về những hoạt động từ khi đến Pháp, Nguyễn Ái Quốc trả lời:

“Ngoài việc vận động các thành viên Nghị viện, tôi đã tìm cách nhen nhóm thiện cảm mỗi nơi một chút, trong đó Đảng Xã hội đã tỏ ra ít thoả mãn với các biện pháp của chính phủ và đã sẵn lòng ủng hộ chúng tôi. ở Pháp, đó là hy vọng duy nhất của chúng tôi. Về hoạt động của chúng tôi ở các nước khác, chính ở nước ông (Mỹ) chúng tôi có nhiều thành công hơn. Còn ở chỗ khác, ở đâu chúng tôi cũng chỉ gặp khó khǎn”.

Nguyễn Ái Quốc tiếp tục trình bày thật cảm động về tình hình kinh tế, tình trạng giáo dục, đời sống khổ sở của người An Nam ở Đông Dương. Ông Phan cũng kể rất tỉ mỉ về cuộc đời gian nan của ông trước mặt Kim Tchong Wen và mọi người trong Hãng thông tấn của ông.

Báo Yi Chê Pao xuất bản ở Thiên Tân, Trung Quốc, ngày 20-9-1919.
In trong sách: Thu Trang: Ho Chi Minh
à Paris, Pari, 1993, tr. 69-70.

Dịch theo bài in trong sách H Chí Minh à Paris

41. Trả lời phỏng vấn của phóng viên báo L’Unità (15-3-1924)

Tôi hỏi anh ở đâu đến.

- Tôi là người An Nam – bị Pháp cai trị, học sinh Trường đại học Phương Đông ở Mátxcơva. Tôi tên là Nguyễn Ái Quốc.

- Anh kể cho nghe về đời học sinh được không?

- Được…

Trong nước, tôi lao động ở nông thôn, tôi rời Tổ quốc tôi cách đây ba nǎm.

Tại sao anh lại sang Châu Âu?

- Trước đây tôi có đọc một số tờ báo phát hành sang nước tôi, một vài tờ có tính chống đối ở An Nam, có những người lính lê dương do Poǎngcarê (Poincaré) gửi sang để cải huấn. Những người lính lê dương này đọc đủ thứ. Họ là những kẻ chống đối về bản chất. Họ cho tôi đọc các báo Pháp. Vì thế tôi nảy ra ý muốn sang xem “mẫu quốc” ra sao và tôi đã tới Pari. Khi Trường đại học phương Đông ở Mátxcơva mở, tôi bèn xin học.

Trường có đông học sinh không?

- Tất cả có l.025 người học thuộc 62 xứ thuộc địa trong đó có 150 gái, 895 vào đảng cộng sản. Trong số l.025 người học 547 là nông dân, khoảng 300 là công nhân, còn là trí thức tư sản.

Anh nghĩ thế nào về sáng kiến Bônsêvích này?

- Tôi rất phấn khởi đối với sáng kiến này. Tôi đã đọc nhiều tuyên bố ủng hộ và đoàn kết của những người chống đối nhưng không người nào đem lại cho chúng tôi một sự giúp đỡ thiết thực để thoát khỏi chế độ nô lệ mà những “người đi gieo rắc vǎn minh” đang giam hãm chúng tôi. Tôi cho rằng sáng kiến này sẽ đem lại những kết quả rất tốt. Nhiều người đã hiểu tình trạng kém cỏi của chúng tôi nhưng chưa có ai, trừ những người làm cách mạng Nga, chỉ cho chúng tôi con đường đi đến giải phóng. ở Bacu, nǎm 1921, lần đầu tiên trong lịch sử của giai cấp vô sản, đã họp một đại hội của các dân tộc phương Đông và chính Lê-nin, đồng chí Ilítsơ thân mến của chúng tôi, đã nêu lên những đề án và hướng dẫn chúng tôi đi những bước đầu để làm cho chúng tôi có khả nǎng cùng tiến bước với giai cấp vô sản thế giới.

Tay anh làm sao thế?

Không sao, anh trả lời. Tôi mang vòng hoa của học sinh viếng Lê-nin, vì thế hai ngón tay tôi bị tê cóng. Lê-nin thương tiếc!

Các anh có bao nhiêu giáo sư? Chương trình có những môn gì?

Chúng tôi có 150 giáo sư dạy các môn: Khoa học xã hội, toán, duy vật lịch sử, lịch sử phong trào công nhân, khoa học tự nhiên, lịch sử cách mạng, kinh tế chính trị học, v.v.. Trường đại học có một phòng chiếu bóng, một thư viện 47.000 cuốn sách. Mỗi dân tộc có một thư viện riêng gồm sách, báo, tạp chí. Nên biết là chúng tôi thuộc 62 dân tộc mà đoàn kết với nhau như anh em ruột thịt. Người học tự viết lấy báo hằng tuần. Chúng tôi có một nhà an dưỡng ở Crimê và hai nhà nghỉ hè, một trong hai nhà đó trước cách mạng là lâu đài của một quận công.

Anh hãy hình dung là ở trên đỉnh ngọn tháp của lâu đài, gần con quạ, biểu tượng của đế chế, phấp phới lá cờ đỏ và ở trong phòng khách, thay vào ngài quận công, là những người nông dân Triều Tiên hoặc ácmêni nô đùa với nhau.

Ai nấu cho các anh ǎn?

- Chúng tôi thay phiên nhau làm bếp. Chúng tôi cũng thay phiên nhau làm việc ở thư viện, ở câu lạc bộ, giặt giũ. Chúng tôi tổ chức thành công xã. Công xã họp một tuần một lần để thảo luận chính trị , và tổ chức các buổi biểu diễn nghệ thuật, giải trí. Những sự sai phạm sẽ do một “toà án”, do công xã bầu ra nếu thấy cần thiết, xét xử.

Khi học xong, anh dự định làm gì?

- Dĩ nhiên là tôi sẽ trở về Tổ quốc tôi để đấu tranh cho sự nghiệp của chúng tôi. bên chúng tôi có nhiều việc phải làm lắm. Chúng tôi chẳng có quyền gì cả, trừ quyền đóng thuế cho “mẫu quốc” Pháp, cho bọn chủ bản xứ. Sự việc nổi bật nhất là như thế này: Chúng tôi là những người bị đô hộ, như đồng chí biết, chúng tôi là những dân tộc “hạ đẳng”, và vì thế chúng tôi không có quyền ứng cử, bầu cử. ở nước Nga, ở cái nước của những người dã man – giai cấp tư sản dân chủ gọi các đồng chí Nga như thế -, chúng tôi có đầy đủ những quyền như công dân Nga. Thật vậy, những đại biểu của chúng tôi do Xôviết của chúng tôi bầu ra theo đúng kỳ hạn, đã cùng hội họp với các đại biểu công, nông, binh. Đó, anh đã thấy rõ sự đối xử khác nhau của chế độ dân chủ tư sản và chế độ dân chủ công nhân đối với chúng tôi!

Chúng tôi đã đau khổ nhiều và chúng tôi còn phải đau khổ nữa. Những người “khai hoá” các nước chúng tôi không để chúng tôi tự do. Nhưng chúng tôi tiếp tục đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười đã vạch ra, chúng tôi sẽ vận dụng vào thực tiễn những bài học đã học được. Các đồng chí của tôi làm việc phấn khởi, tin tưởng, nghiêm túc. Nhiều người còn rất trẻ đã có một trình độ mácxít ít có thể tưởng tượng là có thể có được vào tuổi đó. Chúng tôi hiểu rõ là chúng tôi có trách nhiệm rất nặng nề, và tương lai của các dân tộc thuộc địa tuỳ thuộc vào sự tuyên truyền và tinh thần hy sinh của chúng tôi.

Ở phương Đông, từ Xyri đến Triều Tiên tôi chỉ nói các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, có một diện tích rộng mênh mông với hơn 1.200 triệu dân. Cả vùng rộng lớn này nằm dưới ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc tư bản chủ nghĩa. Các dân tộc ở đó không bao giờ có thể ngẩng đầu lên được nếu không gắn bó với giai cấp vô sản thế giới. Những nghị quyết của phái xã hội dân chủ tỏ cảm tình dù nồng nhiệt đến đâu cũng không có sức nặng.

Việc thành lập Trường đại học Bônsơvích đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử các dân tộc thuộc địa ở phương Đông, và nhà trường đã dạy chúng tôi nguyên lý đấu tranh giai cấp, và nhà trường đã đặt mối liên hệ giữa chúng tôi với các dân tộc phương Tây và trang bị cho chúng tôi – những người nô lệ, khả nǎng hoạt động chặt chẽ.

Khí hậu nước Nga thế nào, có cực lắm không?

- Có… Tôi chưa quen tuy đã ở hai nǎm. Nhưng không sao, tôi sẽ khắc phục được.

Tôi đi thǎm một công xã nông nghiệp. Thôi chào anh.

Báo L’Unità, ngày 15-3-1924.

Đǎng báo Nhân Dân, số 6961, ngày 18-5-1973.

42. Trả lời các nhà báo về thái độ hiện thời của Chính phủ Việt Nam đối với Trung Hoa và Pháp

Đối với Trung Hoa: Trung Hoa và Việt Nam có cái quan hệ mấy ngàn nǎm với nhau về mọi phương diện vǎn hoá, chính trị, kinh tế. Cái quan hệ ấy càng ngày càng thêm sâu xa, mà có thể càng ngày càng thêm mật thiết. Nước Việt Nam được thắng lợi trong sự độc lập, thì sự thắng lợi ấy sẽ là một điều lợi cho Trung Hoa. Trung Hoa và Việt Nam có chung với nhau một biên giới rộng mấy ngàn dặm. Nay Việt Nam không phải là một thuộc địa của Pháp nữa, nước Trung Hoa sẽ bớt đi một lo ngại về miền Nam, vì trong dự định của một vài chính khách Pháp như P.Đume (P.Doumer) chẳng hạn, thì bọn thực dân Pháp vẫn ngấm ngầm định nhòm ngó mấy tỉnh trù phú miền Nam Trung Hoa như Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây. Trung Hoa và Việt Nam có quan hệ như rǎng với môi vậy. Về một phương diện khác, nước Trung Hoa bao lâu nay bị khốn khổ vì các điều ước bất bình đẳng, hẳn đã biết những thống khổ của một dân tộc bị áp bức. Chính Tưởng Chủ tịch cũng đã nói thế trong cuốn “Trung Quốc vận mệnh”. Lẽ tất nhiên đối với nền độc lập Việt Nam, nước Trung Hoa phải sẵn có cảm tình.

Nước Trung Hoa đã giúp đỡ gì chúng ta chưa? Về vật chất chưa giúp gì, nhưng về phần tinh thần có thể nói là đã giúp rồi vậy. Cuộc kháng chiến anh dũng của dân Trung Hoa trong 8, 9 nǎm trời chống phát xít Nhật đã làm cho chúng ta thêm tự tin ở mình, ở sự thắng lợi của cuộc chiến đấu của ta bây giờ với quân xâm lược Pháp trong Nam Bộ. Nhật gần Trung Hoa hơn Pháp gần nước ta nhiều, sức mạnh quân sự của Nhật lại hơn hẳn quân Pháp bao nhiêu bực. Vậy mà cuối cùng, dân tộc Trung Hoa đã đánh bại được Nhật. Tại sao chúng ta lại sẽ không đánh bại được Pháp?

Cái chính sách của Việt Nam đối với Trung Hoa, lúc này tóm lại là phải thân thiện. Còn như trong buổi tiếp xúc đầu tiên này có những chuyện khó khǎn xảy ra (như việc tiêu tiền quan kim, việc xung đột thường ngày vì không hiểu ngôn ngữ nhau, v.v.) thì đó là những chuyện không thể tránh được. Để giải quyết những chuyện ấy không những chỉ Chính phủ mà cả các nhà đương chức Trung Hoa ở đây cũng tận tâm giải quyết ổn thoả. Dân ta lúc này bị điêu đứng về những chuyện ấy, thì phải nhớ đến câu: Muốn gánh được nặng, phải chịu được khó nhọc.

Đối với Pháp: Đối với bọn thực dân Pháp cố tâm dùng võ lực lập lại chủ quyền của chúng ở đây, chúng ta nhất định chống lại chúng kỳ cùng, và nhất định chúng ta sẽ phải thắng lợi. Sự hy sinh của đồng bào ta trong cuộc chiến đấu oanh liệt trong Nam Bộ bây giờ, cái cử chỉ phi thường của một chiến sĩ tự tẩm dầu xǎng vào mình để vào đốt một kho dầu của bên địch, tỏ ra rằng một dân tộc đã có tinh thần cao đến bực ấy thì không sức mạnh nào có thể đè bẹp được. Nhưng chúng ta không chống tất cả nước Pháp, tất cả dân chúng Pháp. Nếu có những người Pháp muốn qua đây điều đình một cách hoà bình (từ trước tới nay chưa có một cuộc điều đình như vậy, nhưng giả sử có, lẽ tất nhiên chúng ta sẽ hoan nghênh) thì điều kiện cǎn bản của cuộc điều đình ấy là người Pháp phải thừa nhận nền độc lập của Việt Nam. Còn ngoài ra có thể có những sự thương lượng để dung hoà quyền lợi của cả hai bên. Có thể rằng: Những cơ sở mà người Pháp đã bỏ vốn ra gây dựng ở đây từ trước đến giờ, nếu xét ra cần thiết cho nền kinh tế quốc gia Việt Nam, sẽ được chúng ta chuộc lại dần dần. Có thể rằng: Chúng ta hoan nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác. Có thể rằng: Chúng ta sẽ mời những nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia.

Nhưng, phải nhắc lại rằng, điều kiện chính vẫn là họ phải thừa nhận nền độc lập của xứ này. Nếu không vậy, thì không thể nói chuyện gì được cả.

Báo Cứu quốc, số 74, ngày 23-10-1945.

(Còn nữa)

Theo cpv.org.vn

Tâm Trang (st)

 

Bài viết khác:

Lịch viếng

THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ

  1. Ban Tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 17 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455128
  2. Ban Đón tiếp, Văn phòng Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, số 1 Ông Ích Khiêm, Ba Đình, Hà Nội. 
    Điện thoại: 024 38455168 - 024 37345484
  3. Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đá Chông, Ba Vì, Hà Nội.
    Điện thoại: 069 591930024 38455168 - 024 37345484

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập (Phiên truy cập)

44357454
Hôm nay
Tuần này
Tháng này
Tổng cộng
23372
42068
480940
44357454