Cán bộ và công tác cán bộ luôn giữ vị trí, vai trò cơ bản, đặc biệt quan trọng, là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng. Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng xác định “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thể chế, cụ thể hóa các nguyên tắc về: Quan hệ giữa đường lối chính trị với đường lối cán bộ; quan điểm giai cấp và chính sách đại đoàn kết rộng rãi trong công tác cán bộ; quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu; giữa đức và tài; giữa kế thừa và phát triển; giữa quản lý thống nhất của Đảng với phát huy đầy đủ trách nhiệm của các cơ quan trong hệ thống chính trị; giữa thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể; giữa phân cấp, phân quyền và kiểm tra, giám sát, kiểm soát, để thực hiện thống nhất, đồng bộ trong Đảng và hệ thống chính trị”(1).

giai phap 2

Đảng ta đã xây dựng được một hệ thống quy chế, quy trình công tác cán bộ. Tuy nhiên, để bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài, cấp ủy và cán bộ lãnh đạo các cấp tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ đổi mới công tác cán bộ, cụ thể như sau:

1. Đổi mới phương thức lãnh đạo và hoàn thiện công tác đánh giá cán bộ của Đảng về công tác cán bộ

Tiếp tục thể chế hóa nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ. Nghiên cứu, ban hành quy định trách nhiệm và thẩm quyền của người đứng đầu trong công tác cán bộ. Việc xây dựng quy định này đòi hỏi vừa bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; vừa phát huy và đề cao vai trò trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ. Bổ sung, hoàn thiện hệ thống các quy định, quy chế về sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của các tổ chức thành viên khác trong hệ thống chính trị. Tiếp tục cải tiến quy trình công tác nhân sự của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. Mở rộng và phát huy dân chủ trong công tác cán bộ, bảo đảm khách quan, công tâm, công khai, minh bạch.

Để hoàn thiện công tác đánh giá cán bộ của Đảng, phải xây dựng tiêu chuẩn chức danh cán bộ và tiêu chí đánh giá cụ thể đối với từng chức danh, từng đối tượng cán bộ, phù hợp với thời kỳ mới. Tiêu chí đánh giá phải xác định được đối tượng cần đánh giá (có đạt hay không đạt mục tiêu đề ra) và phải lấy việc đánh giá hiệu quả công tác thực tế của cán bộ là một yêu cầu cơ bản trong công tác đánh giá cán bộ.

Đánh giá cán bộ phải bảo đảm tính công bằng, khách quan. Nguyên tắc này đòi hỏi: Phải công khai hóa nội dung, tiêu chuẩn và phương pháp tiến hành; bộ phận có thẩm quyền đánh giá phải thể hiện được sự công bằng, khách quan; dựa trên sự khảo sát, thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau; luật hóa công tác đánh giá cán bộ.

Đánh giá cán bộ phải được thực hiện trên quan điểm lịch sử, cụ thể. Thời điểm, hoàn cảnh lịch sử cụ thể có sự chi phối, ảnh hưởng tới công tác của từng cán bộ, vì thế trong đánh giá cán bộ phải căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà đề ra tiêu chí đánh giá phù hợp.

Đánh giá cán bộ cần bảo đảm tính toàn diện. Trong đánh giá phải xem xét tới tất cả các mối liên hệ trực tiếp, gián tiếp; bên trong, bên ngoài; khách quan, chủ quan trong mọi mặt công tác của cán bộ. Các khâu trong công tác cán bộ đều có quan hệ ràng buộc lẫn nhau, vì thế, đánh giá cán bộ phải được nhìn nhận trong mối quan hệ tổng thể, toàn diện các mặt công tác, không phiến diện một mặt công tác nào.

Đánh giá cán bộ phải tuân theo quan điểm phát triển. Cần nhìn nhận đúng quá trình phấn đấu vươn lên, sự phát triển trong công tác và dự báo được khả năng, triển vọng, xu hướng phát triển của cán bộ. Công tác đánh giá phải nhìn nhận được sự phát triển và triển vọng về trình độ, năng lực của cán bộ sau từng giai đoạn; đặc biệt, phải góp phần phát hiện cán bộ trẻ tài năng và sớm đưa họ vào quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng để trở thành nguồn cán bộ lãnh đạo kế cận trong tương lai.

2. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cán bộ

Quy hoạch cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ chính trị và thực tế đội ngũ cán bộ; bảo đảm sự liên thông của cả đội ngũ. Phải đánh giá đúng cán bộ trước khi đưa vào quy hoạch; thực hiện công khai trong công tác quy hoạch (công khai về tiêu chuẩn, số lượng và danh sách quy hoạch đã được cấp trên phê duyệt). Thực hiện quy hoạch cán bộ cấp chiến lược nhiệm kỳ 2016 - 2021 và các nhiệm kỳ tiếp theo. Thực hiện bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp trên nói chung phải kinh qua chức vụ lãnh đạo, quản lý ở cấp dưới.

Quy hoạch cán bộ phải bảo đảm phương châm “động” và “mở”. Số lượng cán bộ đưa vào quy hoạch phải bảo đảm 1,5 đến hai lần; mỗi chức danh quy hoạch hai đến ba người; một người quy hoạnh hai đến ba chức danh; không quy hoạch một người cho một chức danh. Phải bảo đảm về độ tuổi và cơ cấu, đó là: Bảo đảm ba độ tuổi trong quy hoạch và dãn cách các độ tuổi là năm năm; bảo đảm tỷ lệ nữ trong quy hoạch không dưới 15%. Nếu không bảo đảm cơ cấu thì cấp trên không phê duyệt hoặc bổ sung cán bộ từ nơi khác vào quy hoạch.

3. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện luân chuyển cán bộ

Kết hợp chặt chẽ, đồng bộ với các khâu của công tác cán bộ, trong đó có luân chuyển cán bộ. Việc luân chuyển cán bộ phải được đặt trong tổng thể quy hoạch cán bộ lãnh đạo và quản lý của mỗi cấp, mỗi ngành, là một khâu quan trọng hợp thành quy hoạch cán bộ. Thực hiện luân chuyển đúng cán bộ, đúng vị trí là thiết thực góp phần thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ. Mặt khác, trên cơ sở quy hoạch cán bộ khoa học, hợp lý mà khâu đầu tiên là đánh giá khách quan, lựa chọn đúng cán bộ để tiến hành luân chuyển cán bộ có kết quả, đạt mục tiêu đề ra. Luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý phải gắn với việc đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và khả năng phát triển của cán bộ, gắn với yêu cầu phát hiện, bồi dưỡng nhân tài. Cần đánh giá đúng cán bộ để phát hiện mặt mạnh và mặt hạn chế của cán bộ, từ đó xây dựng kế hoạch luân chuyển cho phù hợp, giúp cán bộ thông qua hoạt động thực tiễn khắc phục được hạn chế, mau chóng trưởng thành. Khi luân chuyển cán bộ, cần chú ý thực hiện đồng thời cả hai việc: Một là, phải đánh giá đúng về trình độ, năng lực, khả năng phát triển và phẩm chất đạo đức của cán bộ; hai là, lựa chọn nơi luân chuyển thích hợp nhằm tạo điều kiện để cán bộ phấn đấu.

Do đặc thù của hệ thống chính trị Việt Nam, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý bao gồm nhiều loại như: Cán bộ của Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội; cán bộ quản lý trong doanh nghiệp nhà nước; đơn vị sự nghiệp; cán bộ lãnh đạo cấp trung ương, cấp địa phương và cấp cơ sở. Đối với mỗi loại cán bộ, do tính chất chuyên môn, nghề nghiệp cũng như lĩnh vực công tác khác nhau nên có nhu cầu khác nhau về đào tạo, bồi dưỡng, vì vậy mục tiêu, yêu cầu luân chuyển cũng không giống nhau. Đối với cán bộ trong diện quy hoạch cán bộ lãnh đạo chung của Đảng và Nhà nước ở cấp Trung ương, đòi hỏi phải được chuẩn bị về kiến thức và năng lực lãnh đạo toàn diện, thì việc luân chuyển công tác có thể diễn ra ở phạm vi rộng, cả về địa lý lẫn phương diện chuyên môn, nghề nghiệp. Đối với cán bộ trong quy hoạch cán bộ quản lý (ngành, lĩnh vực, doanh nghiệp) thì phạm vi luân chuyển nên trong ngành, lĩnh vực, tức là bố trí để người cán bộ kinh qua nhiều loại công việc trong phạm vi phụ trách của họ. Cần chú trọng tính chất chuyên nghiệp của đội ngũ công chức hành chính nhà nước để xây dựng đội ngũ lãnh đạo, quản lý chuyên sâu của nền hành chính.

Cần luân chuyển những cán bộ khoa học, kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vụ có khả năng trở thành cán bộ lãnh đạo, quản lý xuống cơ sở, về địa phương để có điều kiện thâm nhập thực tế, từ đó đào tạo, bồi dưỡng chuẩn bị chuyển sang đảm nhận cương vị lãnh đạo và quản lý, nhưng gắn với lĩnh vực chuyên môn hoặc có liên quan tới chuyên môn của ngành đó.

4. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và nâng cao nhận thức của cấp ủy và cán bộ, đảng viên về vị trí, vai trò, ý nghĩa của công tác đào tạo, bồi dưỡng; tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của người học; xây dựng ý thức trách nhiệm của đội ngũ những người làm công tác tham mưu, quản lý đào tạo, giảng dạy; khắc phục tình trạng chạy theo bằng cấp, tuyệt đối hoá bằng cấp của cả người dạy, người học, cơ quan làm công tác cán bộ và cơ quan sử dụng cán bộ. Đổi mới toàn diện, đồng bộ nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng. Định hướng nội dung bảo đảm giữ vững các nguyên lý cơ bản và phương pháp luận biện chứng khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối và quan điểm của Đảng; phải bao gồm cả nguyên lý cơ bản và kiến thức mới lẫn lý luận chung và kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý có tính chất kỹ năng, kỹ thuật; gắn với thực hiện việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Xây dựng một số chương trình đào tạo, bồi dưỡng đặc biệt dành cho cán bộ dự nguồn các chức danh cao cấp của Đảng, Nhà nước và đoàn thể. Mở rộng, nâng cao chất lượng hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học và đào tạo. Xác định đúng mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ về đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị trong thời kỳ mới. Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị phải là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp hoặc cán bộ trong quy hoạch. Cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành cần được đào tạo lý luận chính trị theo tiêu chuẩn chức danh và bồi dưỡng cập nhật kiến thức mới theo quy định. Tổ chức thành nền nếp việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên,…

Việc chọn cử người đi học phải đúng đối tượng, đúng tiêu chuẩn, tiêu chí chọn cử rõ ràng và được công khai, minh bạch, tránh phân bổ chỉ tiêu bình quân, hình thức. Cán bộ được cử đi đào tạo, bồi dưỡng phải xác định rõ mục tiêu, động cơ học tập; nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần tự giác học tập. Hoàn thiện cơ chế, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị. Điều chỉnh, bổ sung những quy định về tiêu chuẩn, chế độ, chính sách đối với giảng viên và người học cho phù hợp. Có chính sách và biện pháp thu hút đội ngũ giảng viên kiêm chức, kiêm nhiệm, thỉnh giảng. Quản lý chặt chẽ quá trình học tập, rèn luyện của học viên trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng. Theo dõi, đánh giá về hiệu quả sử dụng, trưởng thành của đội ngũ cán bộ sau khi được đào tạo, bồi dưỡng.

5. Đổi mới công tác tuyển chọn, bố trí, sử dụng cán bộ

Tiếp tục hoàn thiện chế độ bầu cử; cải tiến cách thức tuyển chọn, lấy phiếu tín nhiệm, bổ nhiệm cán bộ để chọn đúng người, bố trí đúng việc. Mở rộng quyền đề cử, ứng cử và giới thiệu nhiều nhân sự để lựa chọn. Thực hiện nghiêm quy chế cho thôi chức, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý. Kịp thời thay thế những cán bộ yếu kém về phẩm chất, năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ, để việc “có lên, có xuống, có vào, có ra” được thực hiện bình thường trong bố trí, sử dụng cán bộ. Xây dựng cơ chế để đảng viên, nhân dân tham gia giám sát cán bộ và công tác cán bộ. Có chế tài xử lý nghiêm những trường hợp chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, chạy huân chương.

Thực hiện nghiêm Quy chế chất vấn trong Đảng. Đổi mới cách lấy phiếu tín nhiệm để đánh giá, nhận xét cán bộ theo hướng mở rộng đối tượng tham gia. Quy định việc lấy phiếu tín nhiệm hàng năm đối với các chức danh lãnh đạo trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, đoàn thể. Những người không đủ năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ, tín nhiệm thấp cần sắp xếp cho phù hợp; có cơ chế để kịp thời thay thế, không phải chờ đến hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác.

Thí điểm giao quyền cho bí thư cấp ủy lựa chọn, giới thiệu để bầu cử ủy viên thường vụ cấp ủy; cấp trưởng có trách nhiệm lựa chọn, giới thiệu để bầu cử, bổ nhiệm cấp phó.

6. Đổi mới, hoàn thiện chính sách cán bộ

Tập trung nghiên cứu, tiếp tục đổi mới chính sách tiền lương, nhà ở, bảo đảm công bằng, thống nhất theo nguyên tắc phân phối theo lao động. Sớm quy định để thực hiện thống nhất về chế độ đối với cán bộ chuyển công tác, thôi chức vụ khi về hưu; giải quyết một số điểm bất hợp lý về lương và phụ cấp.

Ban hành chính sách, chế độ khuyến khích đối với cán bộ làm việc ở những ngành và vùng cần phải ưu tiên cán bộ, chuyên gia giỏi, làm việc có hiệu quả, có cống hiến thiết thực cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện chính sách điều tiết đối với người có thu nhập cao, bảo đảm công bằng xã hội. Có chính sách phụ cấp tương xứng với trách nhiệm đối với cán bộ xã, phường. Bổ sung chính sách đối với cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ công tác ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khuyến khích cán bộ miền xuôi đến công tác ở miền núi, biên giới, hải đảo. Tiếp tục thực hiện tốt chế độ chăm sóc cán bộ có công với cách mạng (đương chức và nghỉ hưu), trước hết là cán bộ hoạt động trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cán bộ từng hoạt động ở các chiến trường gian khổ.

7. Thực hiện nghiêm túc chế độ tự phê bình và phê bình

Thực hiện tốt việc tự phê bình và phê bình ở các cấp, trước hết là cán bộ chủ chốt; lấy tự phê bình làm chính, tránh cách làm hình thức, chiếu lệ.

Có hình thức tổ chức thích hợp để quần chúng nhân dân tại cơ quan, đơn vị và nơi ở tham gia phê bình cán bộ. Nghiêm cấm mọi hiện tượng trù dập người thẳng thắn đấu tranh phê bình cũng như lợi dụng phê bình để đả kích cá nhân, vu cáo, gây rối nội bộ. Xây dựng và hoàn thiện các quy chế, quy định của Đảng và Nhà nước về chống tham nhũng, buôn lậu, quan liêu, lãng phí và các tệ nạn khác, quy định những điều cán bộ, đảng viên, công chức không được làm. Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính. Bảo đảm quyền giám sát của nhân dân đối với cán bộ, công chức và bộ máy nhà nước. Xây dựng quy chế thực hiện công khai và dân chủ việc xét duyệt các chương trình kinh tế - xã hội, dự án đầu tư, phân bổ ngân sách, kinh phí, cấp giấy phép,... Tăng cường kiểm kê, kiểm sát, kiểm tra chặt chẽ việc chi tiêu ngân sách nhà nước, tài sản công, tài chính đảng, đoàn thể, các loại quỹ do nhân dân đóng góp ở tất cả các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở. Xử lý kịp thời, nghiêm minh theo pháp luật những cán bộ, công chức tham nhũng, buôn lậu, lãng phí và những người bao che, tiếp tay cho các hành vi đó.

Thực hiện đổi mới công tác cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới đang đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi Đảng phải thường xuyên tăng cường công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn. Đây là công việc quan trọng, nhưng không thể thực hiện được ngay, mà cần thực hiện kiên trì, kết hợp giữa tuyên truyền nâng cao ý thức của cán bộ, đảng viên, của các ngành, các cấp với ý kiến đóng góp của quần chúng nhân dân.

Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước, của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng, vì vậy tiếp tục đổi mới công tác cán bộ có ý nghĩa to lớn, là yêu cầu cấp bách, là nhiệm vụ thường xuyên trong sự nghiệp cách mạng của Đảng hiện nay.

ThS. Lê Minh Sơn

Viện Khoa học và Công nghệ quân sự - Bộ Quốc phòng

Theo http://tcnn.vn

Minh Quân (st)

-----------------------------

Ghi chú:

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG - ST, H.2016, tr.205 - 206.

Bài viết mới nhất:

Lịch viếng

THỜI GIAN TỔ CHỨC LỄ VIẾNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức vào các buổi sáng: Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Bảy, Chủ Nhật. Thứ Hai và Thứ Sáu không tổ chức lễ viếng.

Mùa nóng (từ ngày 01 tháng 4 đến ngày 31 tháng 10):

  • Thời gian từ 7 giờ 30 phút đến 10 giờ 30 phút.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 7 giờ 30 phút đến 11 giờ.

Mùa lạnh (từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 31 tháng 3 năm sau):

  • Thời gian từ 8 giờ đến 11 giờ.
  • Thứ Bảy, Chủ Nhật và ngày lễ từ 8 giờ đến 11 giờ 30 phút.

Ngày 19/5, 2/9 và Mồng 1 Tết Nguyên đán nếu trùng vào Thứ Hai hoặc Thứ Sáu, vẫn tổ chức lễ viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đọc thêm

Thông tin

Thống kê truy cập

39615411
Hôm nay
Tuần này
Tháng này
Tổng cộng
10811
54645
233760
39615411